Thứ Sáu, 20 / 10 / 2017
TRANG CHỦ > BỆNH VÔ SINH > VÔ SINH NAM – NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ

VÔ SINH NAM – NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ

Hiện nay, vô sinh nam giới chiếm khoảng 30% trong tổng số các ca vô sinh. Nguyên nhân dẫn tới vô sinh nam có rất nhiều dưới đây là một số nguyên nhân chính gây ra:

I. Nguyên nhân gây vô sinh nam 

1. Nhóm không có tinh dịch hay tinh dịch rất ít 

Nguyên nhân gây nên tình trạng trên do rối loạn tâm lý: Suy tinh hoàn hoàn toàn; hút thuốc lá; bệnh nhân phẫu thuật sau phúc mạc hay cổ bàng quang; bị bệnh đái tháo đường; bị chấn thương tủy sống; bị tắc ống phóng tinh; không lấy trọn tinh dịch xuất ra; một số trường hợp không rõ nguyên nhân.

Ảnh minh họa
Ảnh Minh Họa

2. Nhóm vô sinh do không có tinh trùng trong tinh dịch

Do có các suy tuyến sinh dục, giảm hướng sinh dục: Có các bất thường trong quá trình sinh sản tinh trùng; nhiễm sắc thể bất thường; do mất đoạn nhiễm sắc thể Y; bị ảnh hưởng các chất độc hại ảnh hưởng đến quá trình sinh sản tinh trùng; giãn tĩnh mạch tinh; viêm tinh hoàn do bị bệnh quai bị; bị xoắn tinh hoàn; bị tắc đường dẫn tinh (như tắc ống phóng tinh, ống dẫn tinh, mào tinh, ống xuất, lưới tinh) và một số trường hợp không rõ nguyên nhân.

3. Nhóm vô sinh do tinh trùng ít và yếu 

Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên gồm: Do bệnh nội tiết; giãn tĩnh mạch tinh; tinh hoàn ẩn; thuốc; sức nóng; chất độc hại; nhiễm trùng toàn thân; không rõ nguyên nhân.

4. Nhóm có tinh dịch đồ bình thường nhưng vẫn vô sinh 

Những nguyên nhân chính gồm: Do bất thường ở người vợ; thói quen giao hợp bất thường; cực đầu của tinh trùng (acrosome) không bình thường; có kháng thể kháng tinh trùng; một số trường hợp không giải thích được nguyên nhân.

5. Tinh trùng có đủ số lượng nhưng chết hoàn toàn 

Nguyên nhân do tinh trùng có cấu trúc bất thường: Hoặc lâu ngày không giao hợp; nam giới bị nhiễm trùng ở đường sinh dục; có kháng thể kháng tinh trùng; giãn tĩnh mạch tinh; tắc bán phần đường dẫn tinh; một số trường hợp không rõ nguyên nhân.

II. Những phương pháp điều trị vô sinh ở nam giới 

Hiện nay y học phát triển nên các phương pháp điều trị vô sinh cũng mang lại hiệu quả cao. Phương pháp chủ yếu để điều trị vô sinh gồm: phương pháp nội khoa, thụ tinh nhân tạo

1. Phương pháp nội khoa 

+ Dành điều trị cho các trường hợp có tinh trùng yếu: Chi phí điều trị vô sinh thấp, hầu như vô hại nhưng hiệu quả không cao, không thuyết phục. Có thể chia làm 2 nhóm (dùng thuốc và không dùng thuốc).

– Nhóm không dùng thuốc: Áp dụng cho những bệnh nhân không có bệnh lý rõ ràng, bằng cách khuyên bệnh nhân mặc quần lót rộng, tắm thường xuyên để hạ nhiệt ở bìu thì chất lượng tinh trùng có thể cải thiện.

Bỏ thuốc lá cũng là một biện pháp tốt giúp tăng chất lượng tinh trùng. Ngoài ra, hai vợ chồng cần giao hợp thường xuyên, khoảng 2-4 lần mỗi tuần, để giúp kích thích tinh hoàn sinh tinh.

– Nhóm điều trị bằng thuốc: Thường dùng là các thuốc chống ôxy hóa như vitamin E và C hay clomiphene. Nhìn chung, chưa có thuốc nào, dù Đông y hay Tây y, chứng minh được thuốc có hiệu quả rõ ràng trong điều trị vô sinh nam.

Nếu bệnh nhân có tinh dịch bị nhiễm trùng thì dùng kháng sinh sẽ giúp tinh dịch đồ cải thiện nhanh. Nếu bệnh nhân không có tinh trùng do não không tiết ra các nội tiết tố hướng sinh dục để kích thích sinh tinh (FSH và LH), thì chích các chất này mang lại hiệu quả cao (90%) nhưng rất tốn kém (300.000đ – 600.000đ/mũi) và phải chích liên tục với 3 mũi/tuần, trong 6 tháng.

+ Phương pháp phẫu thuật: Dành cho các bệnh nhân có bệnh lý. Đối với giãn tĩnh mạch tinh, vi phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh giãn hai bên ngả bẹn – bìu giúp tỉ lệ tinh trùng cải thiện trong 60%-70% trường hợp và tỉ lệ có thai là 40% trong 1 năm.

Đối với tắc ống dẫn tinh do triệt sản, vi phẫu thuật nối ống dẫn tinh có kết quả thành công đến 70%-90% trường hợp và tỉ lệ có thai tự nhiên là 30%-55% trường hợp. Đối với tắc mào tinh, vi phẫu thuật nối ống dẫn tinh – mào tinh kiểu lồng hai mũi có kết quả thành công thấp hơn đạt khoảng 80% trường hợp, với tỉ lệ có thai tự nhiên sau mổ vào khoảng 40%-50% trường hợp. Riêng trường hợp tinh hoàn ẩn, thành công rất thấp (10%-15%), nếu điều trị quá trễ thì không còn hy vọng. Phẫu thuật nội soi cắt ống phóng tinh để điều trị vô sinh do tắc ống phóng tinh có tỉ lệ thành công vào khoảng 60% trường hợp với tỉ lệ có thai tự nhiên là 30%-40% trường hợp.

Thành công của phẫu thuật phụ thuộc vào phương pháp mổ, tay nghề của bác sĩ phẫu thuật. Thời gian cải thiện tinh trùng, có thai tự nhiên tùy thuộc vào từng trường hợp. Ví dụ, giãn tĩnh mạch tinh từ 6 tháng đến 1 năm; tắc ống tinh cần 3 – 6 tháng. Không ít trường hợp sau mổ 1-2 năm người vợ mới có thai tự nhiên.

2. Phương pháp thụ tinh nhân tạo 

Bao gồm 3 kỹ thuật: Bơm tinh trùng đã được lọc rửa vào buồng tử cung: Kỹ thuật này dành cho các trường hợp tinh dịch đồ bình thường nhưng người vợ lâu quá không có thai hay tinh trùng yếu nhẹ, hay yếu vừa. Tỉ lệ thành công của phương pháp trên khoảng 12%-20%. Chi phí từ vài trăm ngàn đồng đến vài triệu đồng.

– Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF): Phương pháp dành cho các trường hợp tinh dịch đồ kém hay tắc ống dẫn tinh mà không thể mổ nối được (ví dụ bệnh bất sản ống dẫn tinh hai bên). Người vợ phải được dùng thuốc kích trứng và chính khâu này là khâu gây ra các biến chứng như quá kích buồng trứng, xuất huyết trong ổ bụng, trầm cảm và cũng chính thuốc dùng trong khâu này làm chi phí thụ tinh ống nghiệm lên cao, vài chục triệu đồng cho một lần làm thụ tinh trong ống nghiệm. Phương pháp này có tỉ lệ thành công khoảng 15%.

– Thụ tinh trong ống nghiệm với sự hỗ trợ của vi thao tác tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI): để tăng tỉ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm, kỹ thuật vi thao tác tiêm tinh trùng vào bào tương trứng ra đời. Tinh trùng không cần bơi đến gặp trứng mà nó được “tóm” lấy và chích thẳng vào trong trứng. Nên dù tinh trùng “lười” không chịu di chuyển nhưng chỉ cần nó sống thì có thể làm thụ tinh trong ống nghiệm. Chính vì nguyên nhân tinh trùng bị “ép” phải làm trứng thụ tinh, làm dấy lên các lo ngại về những đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệm có thể dễ mắc các dị tật di truyền. Với phương pháp này, tỉ lệ có thai lên đến 30%-40%, nhưng khoảng 5%-10% trong số đó bị sảy thai. Ngoài ra, các bé sinh ra bằng phương pháp trên dễ có các bệnh bẩm sinh hơn các bé sinh tự nhiên vì tỉ lệ các thai phụ sinh non khá cao.

 

HÃY ĐẶT CÂU HỎI NGAY ĐỂ NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHÚNG TÔI

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.